ĐOÀN TN |HTQL | QLTH.VN | SMAS |VNEDU | TRƯỜNG HỌC KẾT NỐI | EMAIL | E - LEARNING | ELSE | LMS | TUYỂN SINH 2019

15:09 +07 Thứ năm, 24/09/2020
Chủ đề năm học: "Tăng cường nề nếp kỷ cương, nêu gương đạo đức nhà giáo để nâng cao chất lượng giáo dục"
BÁO SỈ SỐ 2020-2021 |ĐĂNG KÍ DẠY GVDG | ĐĂNG KÍ PHÒNG BỘ MÔN | TRA CỨU BG | HÌNH ẢNH | TS THI THPT QG | QL THIÊN TAI | KQ TS LOP 10

Trang nhất » Tổ chức » TỔ CHUYÊN MÔN » VĂN - NN

SKKN_Phương pháp viết một bài văn hay

Thứ bảy - 07/11/2015 21:33
1. Mở đầu
   1.1. Lí do chọn đề tài
   Dạy học Tiếng Việt là dạy học tiếng mẹ đẻ. Dạy học Tiếng Việt giúp các em hình thành 4 kỹ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết. Phân môn Tập làm văn (văn nghị luận) trong môn Tiếng Việt hội đủ 4 kỹ năng trên. Đối với học sinh thì đây là một phân môn khó. Bởi ở lứa tuổi của các em, vốn kiến thức và hiểu biết còn hạn hẹp. Bên cạnh đó còn có một số khó khăn khách quan như điều kiện hoàn cảnh sống của học sinh ở địa bàn dân cư lao động nghèo, gia đình không có điều kiện để quan tâm đến các em, việc diễn đạt ngôn ngữ kém, việc tiếp thu kiến thức khá chậm, học sinh nghèo vốn từ ngữ, …Điều này ảnh hưởng nhiều đến việc học tập nói chung, học phân môn Tập làm văn nói riêng. Trong quá trình làm bài, tôi nhận thấy các em còn lúng túng, nhiều học sinh làm bài chưa đạt yêu cầu. Các em thường lặp lại câu đã viết, dùng từ sai, có em viết không đúng yêu cầu của đề bài hoặc có những bài làm đảm bảo về yêu cầu đề bài nhưng viết không đủ ý. Là một giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn, tôi rất băn khoăn và trăn trở: Làm thế nào để giúp các em thực hiện được mục tiêu đã đề ra? Bản thân tôi luôn cố gắng để tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng học tập cho học sinh của lớp mình. Đây là lý do tôi chọn và áp dụng một số giải pháp để giúp học sinh viết một bài văn hay.
   1.2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
   Tôi chọn đề tài Phương pháp giúp học sinh viết một bài văn hay, trước tiên nhằm  đưa ra những giải pháp cơ bản để giúp học sinh có kĩ năng viết văn nghị luận đạt kết quả tốt hơn.
   Bên cạnh đó, bản thân tôi cũng muốn trao dồi thêm về kĩ năng giảng dạy bộ môn Ngữ văn, học hỏi thêm ở các đồng nghiệp để có thể giúp ích cho chính bản thân trong việc giảng dạy vì đây là môn giảng dạy không được coi là dễ.
  Đồng thời, trong quá trình đứng lớp, bản thân nhận thấy học sinh còn chưa thực sự yêu thích các bộ môn xã hội (nói chung) và bộ môn Ngữ văn (nói riêng). Nắm bắt được điều đó, bản thân cũng muốn tìm ra những giải pháp hữu hiệu để các em say mê, yêu thích hơn trong việc học các môn xã hội (nói chung), đặc biệt là bộ môn Ngữ văn (nói riêng).
   1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
   Đối tượng nghiên cứu là học sinh THPT, vì bản thân trực tiếp giảng dạy ở đối tượng này nên ít nhiều cũng hiểu rõ được khả năng viết một bài văn nghị luận của các em ra sao. Đặc biệt là hướng đến những em yếu về khả năng sử dụng từ, viết câu, cách lập luận trong một bài văn.
   Đồng thời, giáo viên trực tiếp giảng dạy cũng có thể rèn luyện thêm kĩ năng viết văn nghị luận cho những em có học lực từ khá trở lên. Vì chính bản thân của các em ít nhiều gì cũng đã có sự ham học hỏi trong đó, các em hầu hết đều có ý thức trong học tập.
   Về phạm vi nghiên cứu, bản thân cũng cần học hỏi nhiều nên cũng chỉ giới hạn ở cấp học THPT, vả lại, các em học sinh THPT là đối tượng thường xuyên tiếp xúc nên việc nghiên cứu cũng thuận tiện, dễ dàng hơn. Bên cạnh đó, đối với việc chọn lựa đề tài này, tôi nhận thấy phạm vi nghiên cứu không chỉ có giới hạn ở THPT mà còn có thể vận dụng được với các cấp học khác.
   1.4. Phương pháp nghiên cứu
   Do thời gian có phần cấp bách nên bản thân chỉ dựa vào những gì nhìn nhận, đánh giá được trong quá trình kiểm tra, trả bài viết cho các em. Bản thân dựa vào đó rồi đưa ra những chính kiến, đóng góp ý kiến, chỉnh sửa những lỗi sai của học sinh để các em dần dần rút ra kinh nghiệm cho bản thân trong quá trình làm văn.
   Nói tóm lại, bản thân nhìn vào thực tiễn giảng dạy, cách làm bài của học sinh để đánh giá, nhận xét. Từ đó, tùy từng trường hợp mà đưa ra những biện pháp hữu hiệu để giúp các em làm bài tốt hơn cho những lần kiểm tra bài viết sau.
   1.5. Tính mới của đề tài
   Có thể nói, đây cũng không phải là một đề tài hoàn toàn mới nữa, vì hầu như những giáo viên có trách nhiệm, yêu thương học sinh và tâm huyết với nghề họ đều nhận thấy cần phải đưa ra những giải pháp hữu hiệu để giúp học sinh của họ vượt qua những lần kiểm tra hay các kì thi.
   Mỗi giáo viên đều có những biện pháp riêng để giúp cho các em học tốt, cũng như chất lượng bộ môn được nâng cao hơn. Nhận thấy điều đó, bản thân cũng xin đưa ra một vài phương pháp để giúp học sinh viết văn hay hơn. Từng bước làm cho các em học sinh thêm yêu thích bộ môn xã hội nói chung và Ngữ văn nói riêng.
2. Nội dung
   2.1. Cơ sở lí luận
   Qua quá trình trực tiếp giảng dạy, học tập và nghiên cứu, tôi nhận thức được rằng :
- Dạy - học văn đòi hỏi chúng ta cần phải nghiên cứu tìm hiểu và tiếp thu nó bằng cả tâm hồn và trí óc. Đôi khi chúng ta cảm được nhưng để trình bày lại bằng những hiểu biết của bản thân thì lại rất khó.
 - Để viết một bài văn nghị luận là cả một quá trình tổng hợp về lí thuyết của môn Ngữ văn, các hiểu biết về văn hóa, lịch sử, đời sống và đặc biệt là kĩ năng diễn đạt. Để có được điều đó, học sinh phải trải qua một quá trình rèn luyện lâu dài, đặc biệt là phải có sự yêu thích, đam mê bộ môn Ngữ văn. Thế nhưng, điều đáng buồn hiện nay là, kết quả các bài viết của học sinh chưa cao, có thể nói một số bài còn rất yếu.
  2.2. Thực trạng
     2.2.1. Thuận lợi
- Trong những năm công tác, tôi nhận thấy khả năng tiếp thu của các em chưa đồng đều, nhưng trong thời gian lên lớp, bản thân các em có ý thức phát biểu xây dựng bài, chuẩn bị bài khi đến lớp.
- Bản thân cũng nhận được sự quan tâm từ BGH nhà trường, đồng nghiệp thì nhiệt tình giúp đỡ nên công việc giảng dạy cũng có mặt thuận lợi.
- Hiện nay, có nhiều nguồn tài liệu đa dạng và phong phú nên cũng thuận lợi cho việc soạn - giảng của giáo viên khi đến lớp; bản thân học sinh thì có nhiều nguồn tư liệu để tham khảo thêm.
     2.2.2. Khó khăn
   Bên cạnh những mặt thuận lợi đã nêu ở trên thì cũng gặp phải không ít khó khăn:
- Trình độ nhận thức của học sinh không đồng đều, đặc biệt là học sinh dân tộc ít người và học sinh dân tộc Kinh.
- Các em còn gặp nhiều lúng túng khi diễn đạt suy nghĩ của mình.
- Các em hầu hết đều nằm trong độ tuổi mới lớn, đôi khi có những lời nói, cử chỉ, hành động,... gây ức chế cho giáo viên đứng lớp.
- Xu hướng hiện nay của các em học sinh là xem nhẹ bộ môn xã hội, điều này cũng ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng bộ môn.
     2.2.3. Những nguyên nhân bài văn nghị luận chất lượng chưa cao
   Trước những khó khăn nêu trên, bản thân cũng tìm ra một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc bài văn đạt chất lượng chưa cao như sau :
- Khả năng và thời gian lên lớp của giáo viên là có hạn.
- Giáo viên chưa phân loại từng đối tượng học sinh, chưa đi sát với các đối tượng và có các phương pháp giáo dục phù hợp nên hiệu quả giảng dạy chưa cao.
- Bản thân học sinh chưa thực sự quan tâm tới môn học nên còn hời hợt, đói phó.
- Học sinh còn vội vàng trong quá trình làm bài (không đọc kĩ đề) nên dẫn đến việc lạc đề, thiếu sót ý. Hầu hết các em nhận được đề là cầm bút viết ngay, tranh đua với các bạn về mặt thời gian, không cần biết đến chất lượng bài làm của mình nên đã bỏ qua một số bước quan trọng trong khi làm văn thông thường :
+ Bước 1: Đọc và phân tích đề.
+ Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý.
+ Bước 3: Viết thành một bài văn.
+ Bước 4: Đọc lại và sửa chữa.
   Hầu hết các em chỉ tập trung ở bước thứ 3 mà bỏ đi các bước còn lại dẫn đến bài văn lộn xộn, diễn đạt ý chưa rõ ràng, bố cục bài văn thiếu mạch lạc, chặt chẽ.
- Lỗi viết sai chính tả xuất phát từ việc học sinh không hiểu nghĩa của từ, không ý thức khi viết.
- Lỗi sử dụng từ không hợp phong cách: Nguyên nhân học sinh không nắm phong cách ngôn ngữ nghị luận, chưa biết lựa chọn từ ngữ để diễn đạt phù hợp.
- Lỗi lặp từ, thừa từ: Là hiện tượng phổ biến ở bài viết của học sinh. Nguyên nhân vốn từ ngữ của học sinh nghèo, học sinh chưa có ý thức lựa chọn từ ngữ khi sử dụng.
- Lỗi sử dụng từ không đúng nghĩa, sai chuẩn mực: Học sinh không hiểu rõ ý nghĩa của từ.
- Lỗi viết câu không đúng ngữ pháp, thiếu các thành phần chính, thiếu vế trong một câu ghép, viết câu không rõ nghĩa. Giáo viên hướng dẫn học sinh nhận biết các lỗi sau:
+ Lỗi viết câu sai ngữ pháp, viết thiếu cả thành phần chủ ngữ lẫn vị ngữ;
+ Lỗi viết thiếu thành phần chủ ngữ; lỗi viết thiếu thành phần vị ngữ; lỗi viết thiếu một vế của câu ghép.
- Lỗi diễn đạt thiếu chặt chẽ, viết câu dài lê thê, lủng củng, phát triển thành nhiều thành phần phụ, mở rộng thành phần trọng tâm thông báo làm câu văn lan man, thiếu mạch lạc.
- Các lỗi khác: Lỗi diễn đạt, hành văn, chưa biết cách mở bài, kết bài, chưa biết tách đoạn để diễn đạt ý bố cục bài viết…
   2.3. Những giải pháp giúp học sinh viết bài văn hay
     2.3.1. Đối với giáo viên
- Người giáo viên phải có lí tưởng nghề nghiệp trong sáng, luôn học tập rèn luyện để nâng cao kiến thức, kĩ năng sư phạm, nắm bắt những phương pháp giảng dạy mới - hiệu quả.
- Muốn hoạt động sư phạm có sức thu hút và có tác dụng cảm hóa, thuyết phục được các em, bản thân giáo viên phải có tâm hồn trong sáng, tươi trẻ, có tình cảm cao thượng, có thái độ khoan dung. Để đạt được những điều trên, giáo viên phải yêu nghề, yêu trẻ, có thái độ cư xử công bằng, biết kiềm chế bản thân, gương mẫu để học sinh noi theo. Tôn trọng nhân cách và suy nghĩ của các em, biết hợp tác và tạo dựng bầu không khí dân chủ trong lớp học.
- Lòng yêu thương học sinh là động lực mạnh mẽ giúp người giáo viên vượt qua những khó khăn trong đời thường để làm tốt chức năng của một người thầy với tinh thần trách nhiệm cao, cống hiến cho sự nghiệp trồng người.
- Trong hoạt động sư phạm hằng ngày, giáo viên phải có kiến thức và kĩ năng giao tiếp ứng xử trong các tình huống (tình huống sư phạm cũng như tình huống trong quan hệ xã hội).
- Trong quá trình dạy học, giáo viên phải luôn nhấn mạnh với học sinh 4 bước làm văn cơ bản :
+ Bước 1: Đọc và phân tích đề.
+ Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý.
+ Bước 3: Viết thành một bài văn.
+ Bước 4: Đọc lại và sửa chữa.
- Giáo viên cũng cần chú ý đến lời phê, trong quá trình chấm bài, cách đánh giá của giáo viên qua lời phê rất quan trọng. Lời phê sẽ khuyến khích tinh thần, tạo sự hưng phấn yêu thích học tập của học sinh.
   Chấm bài nhất thiết phải có nhận xét, nhưng tránh nhận xét chung chung chỉ bằng một vài từ ngữ: “được”, “chưa được”, “bài yếu”, “bài viết sơ sài”, “không hiểu đề”, “xa đề”, “lạc đề”, …
   Lời nhận xét của giáo viên thể hiện trên hai phương diện: Đạt yêu cầu và chưa đạt về nội dung lẫn hình thức. Qua lời phê, học sinh sẽ nhận thấy khiếm khuyết của bản thân để khắc phục, phát huy những mặt đạt được.
   Muốn có lời nhận xét đúng đắn với từng bài viết, đòi hỏi giáo viên phải thực hiện nghiêm túc, có trách nhiệm cao trong việc chấm bài. Bởi chấm bài là một khâu rất quan trọng trong chu trình chấm - trả bài tác động mạnh mẽ, tích cực đến quá trình dạy và học bộ môn.
- Phần không kém quan trọng là 5 bước trả bài trên lớp :
+ Bước 1: Giáo viên yêu cầu học sinh nhắc lại đề bài dựa theo trí nhớ. Cho học sinh xác định lại yêu cầu về nội dung, thể loại, phạm vi tư liệu.
+ Bước 2: Dựa vào kết quả bài làm, giáo viên tổng kết tình hình làm bài của học sinh ở các mặt ưu khuyết điểm chính, về nội dung kiến thức, hình thức bài làm, kết quả đạt được, tinh thần thái độ làm bài của học sinh,... Những bài viết sáng tạo của cá nhân được tuyên dương, những hiện tượng, những lỗi cơ bản đáng chú ý.
+ Bước 3: Dựa vào yêu cầu của đề, giáo viên hướng dẫn học sinh xây dựng dàn bài hoàn chỉnh. Học sinh sẽ đối chiếu với dàn bài để tự nhận xét về những thiếu sót trong bài viết của mình.
+ Bước 4: Vấn đề cốt lõi quan trọng ở tiết trả bài là giáo viên dành nhiều thời gian hướng dẫn học sinh tự sửa chữa những lỗi sai phạm, thiếu sót về dùng từ, viết câu, dựng đoạn, hành văn, thậm chí cả hình thức chữ viết,…
+ Bước 5: Giáo viên chọn những bài văn hay tiêu biểu đọc trước lớp, hoặc những đoạn văn viết tốt cho cả lớp nghe để học tập rút kinh nghiệm. Cần tạo một không khí thân mật, dân chủ để học sinh có thể yêu cầu thầy giáo giải đáp những thắc mắc về điểm số và cả nội dung bài viết,…Có như thế, giáo viên mới tạo điều kiện tốt để học sinh hoàn thiện hơn về những bài viết văn tiếp theo của mình.
     2.3.2. Đối với học sinh
- Tìm đọc các tài liệu có liên quan đến bộ môn Ngữ văn, nhất là các tác phẩm văn học được trích dẫn trong nhà trường để có sự hiểu biết một cách toàn diện về tác phẩm, các công trình nghiên cứu phê bình - bình luận văn học để nâng cao kiến thức cũng như vốn từ của mình.
- Thường xuyên làm bài tập, chuẩn bị bài trước khi đến lớp.
- Không dấu dốt, phải biết học hỏi, hỏi thầy (bạn) những gì mình chưa (không) hiểu.
- Tận dụng tối đa thời gian học trên lớp để tiếp thu kiến thức và giải đáp những thắc mắc của mình (nếu có).
- Học tập theo nhóm để trao đổi, trau dồi kiến thức.
- Tạo cho mình những cuốn sổ tay văn học, ghi lại những câu (bài) thơ hay để làm tư liệu sau này.
- Thường xuyên rèn luyện chữ viết, lỗi chính tả, thực hành việc sử dụng các loại câu trong các môn học.
- Luôn luôn ý thức học là cho mình, cho tương lai của chính mình.
   2.4. Thực nghiệm và kết quả thực hiện
   Qua việc vận dụng các phương pháp trên, bản thân cũng đã có được những kết quả thiết thực.
   Ở đây, xin thống kê lại một khối lớp dạy trong năm, vì điều kiện của trường nên không thể so sánh giữa các năm được (mỗi năm có giáo viên dạy khác, chưa kể năm sau lại trộn lớp nên tính chính xác có thể không cao):

Tổng số học sinh Khối 11 (năm học 2014 - 2015)
Bài số 1 Bài số 6
Giỏi Khá Tb Yếu Kém Giỏi Khá Tb Yếu
63 4 1 34 16 8 5 9 40 9
 
   Nhìn vào bảng thống kê, ta nhận thấy, khi chưa áp dụng những phương pháp đổi mới, đánh giá trên, kết quả của Bài số 1 còn nhiều em bị yếu (16 em) và thậm chí có kém (8 em); nhưng sau đó, khi đã áp dụng được những phương pháp trên, ta thấy dường như điểm số của các em có phần tiến bộ hơn, cụ thể là Bài số 6, chỉ còn 9 em bị điểm yếu và không có điểm kém.
3. Kết luận
   3.1. Kết quả
- Sau một thời gian áp dụng các biện pháp trên, chất lượng bài viết của học sinh đã được nâng lên, số lượng bài viết bị điểm kém giảm đi rõ rệt.
- Các bài viết đã có ý, trình bày có phần khoa học, bố cục rõ ràng.
- Tuy nhiên vẫn còn một số em còn mắc phải lỗi diễn đạt, lỗi về chính tả, đây là một vấn đề cần nhiều thời gian, công sức, rèn luyện kiên trì, dài lâu của thầy và trò.
   3.2. Đề xuất và kiến nghị
- Nhà trường và các cấp liên quan quan tâm và đầu tư hơn nữa cho bộ môn Ngữ văn, nhất là về tranh ảnh, sách phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập.
- Tôi hi vọng, theo thời gian, qua thực tế giảng dạy, các biện pháp trên sẽ dần hoàn thiện hơn và đạt được kết quả như mong muốn khi xây dựng những phương pháp này.
- Mong các đồng nghiệp và những người quan tâm góp ý để những biện pháp trên hoàn chỉnh hơn.
  
                                      Khánh Hòa, ngày 31 tháng 5 năm 2015
                                                         Người viết
 
 
                                                        Lâm Anh Thi
 
 

Tài Liệu Tham Khảo
1. Sách giáo khoa Ngữ văn.
2. Tài liệu trên Internet.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Tác giả bài viết: Lâm Anh Thi - TTCM

Nguồn tin: Văn - NN

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

HỆ THỐNG TRA CỨU

DANH SÁCH HỌC SINH TIÊU BIỂU

Lý Thị Minh Thư - Lớp: 9A2

- Giải nhì: Ngữ Văn

Nguyễn Minh Khang - Lớp: 7A1

- Giải nhì: Ngữ Văn

Lâm Đức - Lớp: 9A2

Giải khuyến khích: Lịch Sử

Huỳnh Thị Thùy Dương - Lớp: 9A3

- Giải CN: Địa Lí

Nguyễn Thị Hồng Thơ - Lớp: 9A2

- Giải ba: GDCD

Mai Thị Trường An - Lớp: 9A2

- Giải CN: GDCD

Võ Văn Định - Lớp: 9A1

- Giải CN: Sinh

Lý Diệu Loan - Lớp: 9A2

- Giải CN: Sinh

Nguyễn Minh Khang - Lớp: 8A1(2015-2016)

- Giải nhất (khối 8,9): Văn hay chữ tốt

Lê Thị Cẩm Tiên - Lớp: 8A2(2015-2016)

- Giải KK (khối 8,9): Văn hay chữ tốt

LIÊN KẾT WEBSITE





LƯỢT TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 7

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 5


Hôm nayHôm nay : 1458

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 46211

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4180841